Change

Phổ Am thần Chú

Thảo luận trong 'ĐẠO PHẬT' bắt đầu bởi batquantrai, 28 Tháng mười hai 2012.

  1. batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    1. Sơ lược tiểu sử :

    Ngài Thiền Sư Phổ Am họ Dư, tên thật là Ấn Túc (1115 – 1169), được tôn xưng là Thiền Sư Phổ Am, Tổ Sư Phổ Am… Trong nhân gian thường viết “Phổ Án”. Ngài sinh năm 1115 niên hiệu Tống Vi Tông Chánh Hòa năm thứ 5, quê tại Viên Châu, Nghi Xuân (nay là Khu Viên Châu, Thành Phố Nghi Xuân, Tỉnh Giang Tây, Trung Quốc). Ngài là cao tăng đời thứ 13 thuộc phái Thiền Lâm Tế, xuất gia năm 1134 – niên hiệu Tống Cao Tông Thiệu Hưng năm thứ 4. Một ngày nọ Ngài tụng kinh Hoa Nghiêm đến câu: “Đạt bổn tình vong tri tâm thể hợp” Ngài hoát nhiên đại ngộ nhập vào được các quốc độ của chư Phật. Trong thời gian tại thế Ngài đã sọạn ra bài chú Phổ Am nhưng nguyên nhân sáng tác không rõ. Đến năm Hiếu Tông Càn Đạo thứ 5 (1169) ngày 21 tháng 7 Ngài tắm gội, thay quần áo, đắp y hậu ngồi kiết già phu tọa thị chúng rồi thâu thần thị tịch. Thọ thế 55 tuổi, tăng lạp 28 hạ.

    2. Tước hiệu :

    Năm Nguyên Thành Tông Đại Đức thứ tư (1300) phong Thụy Đại Đức Tuệ Khánh, năm Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc 18 (1420) phong tặng “Phổ Am Chí Thiện Hoằng Nhân Viên Thông Trí Huệ Tịch Cảm Diệu Ứng Từ Tế Chơn Giác Chiêu Huống Tuệ Khánh Hộ Quốc Tuyên Giáo Đại Đức Bồ Tát.

    3. Những chuyện kỳ lạ :

    Sau khi Ngài viên tịch, sự linh hiển của Ngài khiến cho nhân dân ai muốn cầu gì cũng ứng, nhất là dùng bài Chú trong mọi trường hợp để được an bình. Bài chú nguyên có tên là: “Phổ Am Đại Đức Thiền Sư Thích Đàm Chương Thần Chú” hay còn gọi “Thích Đàm chương” chữ Thích Đàm tức Tất Đàm, chữ phiêm âm từ Phạn ngữ Siddam qua tiếng Trung quốc. Ở Trung quốc lúc bấy giờ người ta ít thấy Bài Chú của Tổ Sư sáng tác. Cho nên có một số người nhận định rằng vì sự tu hành của Ngài đã đạt đến cảm nhận được Phạn Chú và phỏng theo Phạn Âm hoặc theo chủng tử tự mẫu Kinh Hoa Nghiêm mà sáng tác ra. Dựa trên thực tế, chữ đầu của chú nầy là chữ “Án” còn đọc “Úm, Om”, chữ nầy là chủng tử tự thường thấy trong kinh chú Phật Giáo đều có tính cách linh thiêng. Chú ngữ trong Kim cang giới dùng chữ Án (Úm) đứng đầu, còn trong Thai tạng giới dùng chữ Nẵng mồ (Nam Mô) như Chú Lục Tự Đại Minh “Án, ma ni bát mê hồng” hay “Nẵng mồ tam mãn đà…...”

    Theo truyền thuyết, Thiền Sư Phổ Am có rất nhiều chuyện tích linh nghiệm :

    - Vào năm Thiệu Hưng 26 (1156), một lần nọ Ngài Thiền Sư cung hành Pháp hội nhưng quan địa phương có hiềm khích nên cho rằng đó là mê hoặc quần chúng, liền phái lính tuần phủ đến điều tra trước, đột nhiên gió to mưa lớn nỗi lên, trên trời hiện ra hình tượng một con rồng lớn, tuần phủ thấy vậy không dám điều tra phải quay về.

    - Có một lần Ngài Thiền Sư Phổ Am đáp lời mời một tín đồ tên là Trần Thiên Chương đến nhà để cử hành pháp sự, Ngài hướng dẫn tăng chúng đi theo chỉ tụng một biến Kinh Kim Cang là kết thúc buổi lễ. Ông Trần Thiên Chương tỏ vẻ không vui, cho rằng Ngài Thiền Sư Phổ Am quá qua loa lấy lệ, vì thế mà Ngài Phổ Am lại tụng thêm một lần nữa.

    Sau đó Ông Trần Thiên Chương tự nhiên bị chết đột ngột, nhưng 3 ngày sau sống lại. Ông kể rằng: Ông bị dẫn xuống địa phủ và vị Phán Quan quở trách “Ông đã có thái độ bất kính khi đối xử với Ngài Phổ Am, làm cho Ngài phải tụng 2 biến Kinh Kim Cang.” Về sau Trần Thiên Chương mang 1 cây bút lớn, dầu mè, tiền đem đến cúng dường Ngài Phổ Am, Ngài Thiền Sư Phổ Am liền viết trên lưng Ông Trần Thiên Chương 4 chữ: “Thí Tài Công Cứ” khiến người ta tấm tắc khen ngợi . Sau nầy khi Ông Trần Thiên Chương tạ thế, trong gia đình Họ Cam có người sanh một hài nhi trên lưng tự nhiên có vết sẹo đúng như 4 chữ “Thí Tài Công Cứ”.

    4. Công năng của Thần Chú :

    - Tín ngưỡng nhân gian :

    Đặc biệt chú Phổ Am tương truyền rất linh nghiệm, dân gian đều công nhận có khả năng “phổ an thập phương, an định tùng lâm, yêu cầu côn trùng, súc vật như: chuột, kiến, muỗi, ve, gián, thằn lằn… hoặc tà ma quỷ mị … đi nơi khác, có thần lực tiêu tai giải ách, trấn sát an thai, trừ uế v.v… Do đó mà các cơ sở buôn bán Phật cụ Đài Loan đã thâu CD tụng, nhạc không lời bài Chú Phổ Am để dân chúng thỉnh về nghe vừa thoải mái tinh thần lại vừa làm cho các loài côn trùng tránh xa. Tín ngưỡng nhân gian ở Đài Loan còn truyền thuyết dùng giấy màu đỏ hoặc vàng viết 8 chữ của câu cuối trong bài chú “Phổ Am đáo thử bách vô cấm kỵ = Ngài Phổ Am đến đây trăm sự không kiêng kỵ” dán trong nhà có khả năng hoán đổi được phong thủy (địa lý) của ngôi nhà.

    Dân chúng làm nghề đánh cá hay hàng hải thường thờ Thần Vị Ngài trên thuyền để cầu xin biển yên sóng lặng luôn được bình an. Đối với người dân đi biển Ngài được xem như một vị Hải Thần. Ngài Thiền Sư Phổ Am còn được một số Đạo Sĩ Trung Quốc tôn thờ như một vị Tổ Sư, Giáo Chủ tức “Phái Phổ Am”, họ thờ phụng, tạo tượng đủ hình tướng như: Tỳ kheo, Đạo sĩ, Đế vương, Tướng quân…

    - Phật Giáo :

    * Phật Giáo Trung Quốc và Nhật Bản các chùa thuộc phái Lâm Tế thường có thờ Thần Vị Ngài tại hậu điện (hậu liêu) để hàng ma, phục quỷ…

    * Phật Giáo Việt Nam trong các chùa không thấy thờ Tôn tượng hay Thần vị Ngài kể cả tín ngưỡng nhân gian. Tuy nhiên trong hành trì quý Thầy đều có học và tụng, đặc biệt là Phật Giáo miền Trung - Thừa Thiên - Huế quý Thầy đều phải học thuộc lòng và thường tụng trong các Lễ Khai Kinh sái tịnh, kết giới đại trai đàn: Bạt Độ, Chẩn tế, Lạc thành, Đại lễ Quy y Linh trong đám tang…

    - Bài Chú :

    Bài chú nầy (âm Hán Việt) có in trong cuốn Tang Lễ cho người tại gia do Tôn Giả Liễu Tạng soạn, bản in tại Huế (rất tiếc không nhớ được tên của người âm) và trên mạng lưới toàn cầu Hán văn. Sau đây là toàn văn Bài Chú gồm cả phần đầu – phần chú ngữ - phần kết.

    Trì tụng Bài Phổ Am :

    Phổ Am linh cảm . Diệu ứng từ tế. Chơn giác chiêu huống Huệ Khánh, Đại đức Thiền Sư Thích Đàm Chương.

    ( Tụng đến đây tiếp tụng bài chú như bài đã post trên, và chuyển qua điệu khác )

    - Cung Điệu :

    Cung điệu tụng bài chú nầy không thể giải thích được, mà chỉ nghe và bắt chước theo như tập hát. Pháp khí dùng cho bài nầy lại không có mõ mà chỉ dùng tang. Chú ngữ lặp đi lặp lại, đảo ngược đảo xuôi, mỗi địa phương có thể thêm bớt, hoặc cung điệu khác nhau rất khó nhớ cần phải tập luyện lâu dài mới thuộc lòng được.

    5. Hành Trì :

    Đối với Mật pháp việc hành trì rất khó khăn, có riêng nghi quỹ cho từng môn. Muốn học phải có vị thầy truyền thọ ( A xà Lê ), nếu tự ý học và tự ý chỉ dẫn cho người khác thì phạm tội Việt Tì Ni. ( Xin xem Từ Điển Phật Học Hán Việt trang 1515 do Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội ấn hành tại Việt Nam ).

    Do đó mà Phật tử chúng ta muốn tu trì riêng biệt mật chú nên tìm quý Thầy chuyên môn để thỉnh ý và xin chỉ dạy. Còn chỉ tụng như những bài kinh, chú công truyền có in trong các quyển nghi thức với mục đích an định tam nghiệp, tăng trưởng tâm từ bi, cầu nguyện cho tất cả chúng sanh hiểu được ý nghĩa bài chú để tu học, không gây tổn hại cho chúng sanh khác. Ngôn ngữ bất cứ bài chú nào cũng rất đặc biệt là tất cả mọi chúng sanh đều cảm nhận được và thực hành theo lời chỉ dạy trong bài chú đó .
  2. batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Thần Chú Phổ Am

    1. Văn Kinh Việt Ngữ

    Văn Kệ:

    Phổ am tịch cảm diệu ứng từ tế chơn giác chiêu huống Huệ Khánh Đại Đức Thiền sư thích đàm chương.

    Khể thủ quy y Phổ Am Sư
    Nam hải Quan Âm hóa hậu thân
    Thọ Long đắc đạo truyền chánh pháp
    Thiên Long nham nội giảng Hoa Nghiêm
    Định-Quang pháp tiền tuyên mật ngữ
    Từ hóa khai sơn cứu độ nhân
    Khẩn Na-La vương hiển thần thông
    Hổ Già-La vương trấn oai linh
    Ngũ thông đắc đạo thần tiên chúng
    Bích-Chi La-Hán tổng lai lâm
    Thiên-Bồng Thiên-Du đại nguyên soái
    Tam đàn diễm hỏa đại tướng quân
    Tứ-Thiên Môn-Vương Tứ Yết-Đế
    Nhị thập tứ vị chư thiên binh
    Vô số thiên long bát bộ chúng
    Bách vạn hỏa thủ Kim-Cang thần
    Đô-Thiên lục túy Tôn vương Phật
    Sùng-Ninh Đức-Thắng Đại-Chân Quân
    Hòa Quang Pháp Thắng đại thiền sư
    Long hổ nhị Tiên tả hữu phân
    Lăng-Nghiêm hội thượng Phật Bồ tát
    Đại bi Lăng-Nghiêm Dược-Xoa thần
    Thực quỷ thôn ma chư Thiên Tướng
    Tắc hải di sơn Tứ Mục Quân
    Tiền truyền hậu giáo Chư Phật Tổ
    Điện-Mẫu Lôi Công Thích-Lịch thần
    Thiên-Long nham nội hàng ma tướng
    Tế tế tham tùy nhất bộ hành
    Trì xoa kình chử đà thiết tỏa
    Tràng phang sinh tiếc chỉnh như vân
    Động diêu kim linh sơn nhạc chấn
    Tận giai vân tập tiểu yêu phân
    Chư quỷ hiện hình đầu phấn toái
    Hát thinh biến hóa nhập vi trần
    Chư thượng thiện nhân câu vân tập
    Tiền vong hậu hóa cập tiên thân
    Văn thinh phúng tụng thích đàm chươn
    Vụ ủng vân phi giáng đạo tràng
    Chí tâm xưng niệm vô tà tưởng
    Thiên hạ tà thần bất cảm đương
    Hoặc dạ hành hề hoặc tảo khứ
    Sơn lâm vọng lượng hữu tinh mị
    Chí tâm quy y Phổ Am sư
    Tự hữu long thần lai vệ hộ
    Hổ-Lang văn tri bôn cao sơn
    Ngư-Long thính trước quy hải thủy
    Phá tháp miếu đàn vô đạo nhân
    Khê động nham nhai thạch khái quỷ
    Xà thương hổ giảo cổ độc hại
    Lạc thủy đọa thai tịnh tự ải
    Ỷ thảo phụ thọ mộc thạch tinh
    Bất chánh tà thần tốc hồi tỵ
    Nhược bất thuận ngô đại đạo tâm
    Thiên-lôi thích-lịch dữ phấn toái
    Năng cứu nhân gian bát nạn khổ
    Năng giải nhân gian sanh tử uế
    Thập sanh cửu tử bịnh nhân hôn
    Năng niệm chân ngôn trì tịnh thủy
    Đà-la-ni chú giải oan gia
    Đại bi thần chú năng an úy
    Thành hoàng xã lịnh thổ địa thầ
    Ủng hộ tham tùy thính xu sử
    Ngũ phương tà khí tận tiêu trừ
    Tử giả hoàn hồn tang phước huệ
    Thần hôn phúng tụng Thích-Đàm chương
    Phật đạo hoan duyệt an thần vị
    Gia đường trù táo tất an ninh
    Thổ địa long thần vô cấm kỵ
    Tổ tiên tam đại cập nhân thân
    Văn thinh tận đắc siêu thăng lộ
    Thiên tinh địa diệu các hồi cung
    Tiêu tai giáng phước bất tư nghị
    Duy nguyện cổ Phật giáng lai lâm
    Tức thuyết Thích Đàm chương diệu cú.

    Nam mô Phật đà da
    Nam mô Đạt ma da
    Nam mô Tăng già da
    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
    Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
    Nam mô Phổ Am Tổ Sư Bồ Tát
    Nam mô bách vạn Hỏa-thủ Kim-cangVương Bồ Tát.
  3. batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    2. Văn Kinh:



    Án, ca ca ca nghiên giới. Dá dá dá thần nhã. Tra tra tra đát na . Đa đa đa đàn na. Ba ba ba phạm ma. Ma phạm ba ba ba. Na đàn đa đa Na đát tra tra tra. Nhã thần dá dá dá giới nghiên ca ca ca. Ca ca ca nghiên giới ca ca kê kê cu cu kê, cu kê cu. Kiên kiều kê, kiều kê kiêm, giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới Dá da chi chi châu châu chi , Châu chi châu chiêm chiêu chi, châu chi chiêm. Nhã thần dá dá. Dà dá dá thần nhã Tra tra tri tri, đô đô tri. Đô tri đô, đãm đa tri, đa tri đảm-na đát tra tra tra- Tra tra tra đát ma- Đa đa đế đế đa đa đế- Đa đế đàm, đa đế đa đàn na – Ba ba bi bi. Ba ba bi. Ba bi ba. phạm ba bi, Ba bi phạm Ma phạm ba ba ba. Ba ba ba phạm ma. Ma phạm ba ba ba- Na đàn đa đa đa. Na đát tra tra tra, nhà thần dá dá dá. Giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới. Ca ca kê kê, cu cu kê kiều kiêm- Kiêm kiêm kiêm kiêm kiêm. Nghiêm nghiêu nghê, nghiêu nghê nghiên giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới. Dá dá chi chi châu châu chi chiêu chiêm, chiêm chiêm chiêm chiêm chiêm. Nghiêm nghiêu nghê; nghiêu nghê nghiệm. Nhã thần dá da dá, dá dá dá thần nhã - Tra tra tri tri, đô đô tri đa đảm, đãm đãm đảm đãm. Nẫm na ni na ni nẫm, na đát tra tra tra, tra tra tra đát na, Da đa đế đế đa đa đế đa đàm, đàm đàm đàm đàm- Nẫm na ni na ni nẫm. Na đàn đa đa đa, đa đa đa đàn na - Ba ba bi bi ba ba bi ba phạm, phạm phạm phạm phạm phạm. Phạm ma mê, ma mê phạm, ma phạm ba ba ba, ba ba ba phạm ma, ma phạm ba ba ba. Na đàn đa đa đa - Na đát tra tra tra - Nhã thần dá dá dá, giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới - Ca ca kê kê cu cu da. Dụ dụ, dụ dụ dụ dụ dụ dụ dụ. Giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới. Dá dá chi chi châu châu da - Dụ du, dụ dụ, dụ dụ dụ dụ dụ. Nhã thần dá dá dá, dá dá dá thần nhã. Tra tra tri tri đô đô da. Nô nô, nô nô, nô nô nô nô nô - Na đát tra tra tra, tra tra tra đát na. Đa đa đế đế đa đa da. Nô nô, nô nô, nô nô nô nô nô - Na đàn đa đa đa - đa đa đa đàn na. Ba ba bi bi ba ba da- Mẫu mẫu, mẫu mẫu, mẫu mẫu, mẫu mẫu mẫu. Ma phạm ba ba ba - ba ba ba phạm ma, ma phạm ba ba ba - Na đàn đa đa đa, na đát tra tra tra, nhã thần dá dá dá, giới nghiên ca ca ca, ca ca ca nghiên giới.
    Án:
    Ba đa tra, dá ca da, dạ lan ha, a sắc tra, tát hải tra, lậu lô, lậu lô tra- Dá ca dạ tóa ha.


    Vô số Thiên long Bát bộ, bách vạn hỏa Thủ Kim cang, tạc nhật phương ngung, kim nhật Phật địa - Phổ Am đáo thử, bách vô cấm kỵ.

    Hết .
  4. tuancuong79 T. Viên Chính Thức

    Bác ơi, bài chú này giống chú địa bi thế nhỉ,bác phân tích nữa đi ạ
  5. Cát Tường Như Ý T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Theo mình thường năng đi Chùa lễ Phật ngày chung Sóc Vọng được nghe giảng do quý thầy cô trong Ban Hoằng Pháp .

    Ý nghĩa của bài Chú Đại Bi là do bi nguyện lực của đức Quán Thế Âm dựa trên 82 vị Phật Bồ Tát hay Thiên long Bát Bộ để dẫn chúng sanh thâm nhập kinh tạng của Như Lai , Ứng cúng , chánh biến tri , Minh Hạnh túc , Thiện thệ , Thế gian giải , Vô thượng sỉ , Điều Ngự , Trượng Phu , Thế Tôn .

    Còn Bài Phổ Am là do ngài Thích Đàm Chương vị thiền Sư đã liểu ngộ chơn thường vô vi mà soạn ra để tẩy trần ô trọc này và làm cho các loài vô tình cũng như hửu tình đồng đăng bỉ ngạn .
    batquantrai and vohinh.tu Thanks.
  6. batquantrai T.V Đóng góp tích cực nhiều học thuật

    Trong Tứ Chúng ( Tỳ Kheo - Tỳ Kheo Ni - Ưu bà Tắc - Ưu bà di ) Quả nhiên con là bậc thiện nữ nhơn , Thầy rất Hoan Hỷ
    Như ÝThanks.
  7. Bian.tu T. Viên Chia Sẻ Tích Cực

    Tỹ Như Ý Là Thiện Nữ Nhơn..Và Bác Nhà Ta Sẽ Là : Thiện Tri Thức :th_2.gif-28:

Chia sẻ trang này